Thể tích các hình chóp, cách tính thể tích hình chóp

Đại Dương Xanh Glass

Thể tích các hình chóp, cách tính thể tích hình chóp. Hình chóp cụt là phần chóp nằm giữa đáy và thiết diện cắt bởi mặt phẳng song song với đáy hình chóp.

0.0 (0%)/0 votes

Thể tích các hình chóp, cách tính thể tích hình chóp

Trong chương trình Hình học của môn Toán cấp 3, các bạn học sinh đều luôn phải thuộc nằm lòng các công thức, hằng đẳng thức, các quy luật, định nghĩa… khác nhau. Với bài viết này, Cửa Kính Đại Dương Xanh Glass xin cung cấp cho bạn đọc những định nghĩa, đặc điểm, tính chất và các công thức liên quan đến hình chóp.

Hình chóp là hình gì?

Hình chóp.

Định nghĩa hình chóp là gì?

Hình chóp có mặt đáy là một đa giác và các mặt bên là những tam giác có chung một đỉnh. Đỉnh này gọi là đỉnh của hình chóp
Đường thẳng đi qua đỉnh và  vuông góc với mặt phẳng đáy gọi là đường cao của hình chóp.
Hình chóp có đáy là tam giác gọi là hình chóp tam giác
Hình chóp có đáy là tứ giác gọi là hình chóp tứ giác.

Công thức tính thể tích hình chóp

Công thức tính thể tích hình chóp


Hình chóp cụt là hình gì?

Định nghĩa hình chóp cụt

Hình chóp cụt là phần chóp nằm giữa đáy và thiết diện cắt bởi mặt phẳng song song với đáy hình chóp.
Hai đáy là hai đa giác có các cạnh tương ứng song song và tỉ số các cạnh tương ứng bằng nhau.
Các mặt bên là những hình thang.
Các đường thẳng chứa các cạnh bên đồng quy tại một điểm.

Công thức tính thể tích hình chóp cụt

Công thức tính thể tích hình chóp cụt

Hình chóp đều là gì?

Định nghĩa hình chóp đều

Hình chóp đều là hình chóp có mặt đáy  là một đa giác đều, có mặt bên là những tam giác cân bằng nhau có chung đỉnh.
Trên hình chóp đều S.ABCD:
Chân đường cao H là tâm của đường tròn đi qua các đỉnh của mặt đáy
Đường cao vẽ từ đỉnh S của mỗi mặt bên của hình chóp đều được gọi là trung đoạn của hình chóp đó.

Công thức tính thể tích hình chóp đều

Công thức tính thể tích hình chóp đều

Ứng dụng của hình chóp cụt trong thực tế

Mái Mansard trong kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc

Mái Mansard trong kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc

Cái tên Mansard được lấy từ tên của người thiết kế ra nó là kiến trúc sư người Pháp François Mansard. Kiểu mái nhà này ra đời ở Pháp từ thế kỷ 17. Đó là một khối mái nhà hình thang bằng đá phiến đen úp lên ngôi nhà. Loại mái này tạo ra tầng nhà trên cùng có tác dụng chống nóng, chống lạnh cho ngôi nhà. Tầng này chỉ dùng làm kho chứ không dùng để ở. Mái có hình chóp cụt với độ dốc khá lớn, lợp ngói đá, do vậy tạo ra được một tầng áp mái có độ cao khả dụng. Các tòa nhà, công trình với mái Mansard tạo nên phong cách Tân cổ điển Pháp. 

Tại Hà Nội, mái Mansard được sử dụng ở hầu hết các công trình kiến trúc phong cách Tân cổ điển do Pháp xây dựng trong thời kỳ 1888 - 1920 như Dinh Thống sứ, Toà án, Bưu điện, Ga Hàng cỏ, Trụ sở Công ty Hoả xa Đông Dương - Vân Nam, Khách sạn Métropole, Toà báo Avenir Tonkin (nay là Tòa soạn báo Hà Nội Mới)…. Việc sử dụng bộ mái Mansard ở nhiều công trình kiến trúc theo phong cách Tân cổ điển ở Hà Nội đã góp phần tạo ra những giá trị thẩm mỹ có tính lịch sử của những công trình này.

Dưới bàn tay thiết kế và kỹ thuật xây dựng tỉ mỉ, cầu kỳ của người Pháp mà mái Mansard không chỉ là một bộ phận không thể thiếu của một tòa nhà mà còn trở thành một biểu tượng kiến trúc có tính thẩm mỹ cao. Tuy nhiên từ nửa cuối thập niên 1920, phong cách kiến trúc Tân cổ điển Pháp cùng bộ mái Mansard đã phải nhường chỗ cho phong cách kiến trúc hiện đại Art Deco và phong cách kiến trúc Đông Dương, từ thời điểm này hầu như không còn công trình nào theo phong cách Tân cổ điển được xây dựng nữa.

Những năm trở lại đây, tại Hà Nội mọc lên nhiều tòa nhà có mái kính cường lực giống kiểu mái Mansard phong cách Tân cổ điển nhưng nó lại bị biến tấu một cách vô lý, xấu xí, không còn vẻ gì là mái Mansard nữa. Sự xuất hiện tràn lan các công trình kiến trúc theo dạng nhái kiến trúc Pháp thuộc gắn với cái gọi là mái Mansard thực sự làm xấu đi bộ mặt kiến trúc Thủ đô thế kỷ 21. Lý do là bởi các kiến trúc sư, kỹ sư đã biến tấu độ cao, chất liệu… khiến nó không phù hợp, ăn nhập với tổng thể tòa nhà. Đó còn là do sự thiếu hiểu biết và tính áp đặt của các chủ đầu tư; là sự thiếu năng lực, lười nghiên cứu và thiếu cương quyết của các kiến trúc sư.